Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo - có còn phù hợp?
Cập nhật: 9:48:00 28/7/2010
Mô hình phát triển kinh tế dựa trên các tập đoàn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo được đánh giá là không còn phù hợp. Trao đổi với TBKTSG, TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR), Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng khu vực kinh tế nhà nước khó có thể phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Khu vực tư nhân có thể tham gia những dự án lớn
Tôi cho rằng có sự nhầm lẫn về mặt
tư duy lý luận trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của Việt Nam. Người ta
đang nhầm lẫn việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
phải có khu vực kinh tế nhà nước lớn, lấy khu vực kinh tế nhà nước làm chủ đạo.
Theo ý chí này, khi nền kinh tế mở
cửa, để chống chọi với sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, Việt Nam cần có
những tập đoàn lớn. Điều này không sai, nhưng người ta đã nhầm về cấu trúc sở
hữu của các tập đoàn kinh tế nhà nước, cũng như cơ cấu nội bộ của nó phải vận
hành như thế nào.
Thực tế, nhiều nền kinh tế lớn đều
dựa vào một số tập đoàn lớn, nhưng những tập đoàn này đều thuộc sở hữu tư nhân
hoặc quyền sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước và tư nhân.
Quan trọng hơn, tư nhân vẫn nắm
quyền kiểm soát và vận hành tập đoàn. Chính điều này tạo ra động lực kiểm soát
quá trình vận hành bộ máy của các tập đoàn kinh tế này đi đúng quỹ đạo.
Điều này càng đúng hơn, khi quyền
lợi và trách nhiệm của mỗi cổ đông ở những tập đoàn này, gắn liền với đồng tiền
mà họ bỏ ra.
“Nhà nước chỉ tham gia vào những lĩnh vực chủ
chốt mà tư nhân không làm hoặc chưa làm được”. Nhiều văn kiện chính thức khẳng định
như thế. Có phải đó là lý do khu vực kinh tế nhà nước vẫn được coi là chủ đạo?
Cần phân biệt, thế nào là ngành nghề
chủ chốt? Chủ chốt không có nghĩa là theo tiêu chí riêng của ngành nghề đó. Nhà
nước cần tham chiếu các nước trong khu vực, ít nhất là Đông Nam Á, hoặc các
quốc gia có trình độ đi trước Việt Nam khoảng 10-15 năm.
Đơn cử, ở Thái Lan, thị trường gạo
đã được tư nhân hóa hơn 100 năm qua.
Cụ thể hơn, về lâu về dài ở lĩnh vực
năng lượng như điện, nước, xăng dầu... Nhà nước cũng cần có lộ trình để tư nhân
hóa, quan trọng là phải có cách tư duy đúng để hành động đúng. Cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước cần thực hiện toàn diện và triệt để hơn.
Chuyển đổi sở hữu phải đi đôi với
việc tạo dựng thị trường cạnh tranh. Hai công việc này phải thực hiện đồng
thời, làm được điều này, Nhà nước sẽ xóa bỏ được độc quyền ở một số ngành nghề
và thị trường hóa các ngành nghề không quan trọng mà Nhà nước đang nắm giữ hiện
nay.
Theo ông, trở ngại lớn nhất của việc
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là gì?
Ngân sách nhà nước còn phụ thuộc vào
tài chính của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước lớn. Nguồn thu chính của Nhà
nước là thuế, nguồn thu này chủ yếu từ những tổng công ty và tập đoàn nhà nước.
Điều này, vô hình trung đã tạo cho tập đoàn nhà nước có những lợi thế nhất
định.
Đã có không ít trường hợp, doanh
nghiệp nhà nước tác động vào chính sách để giành lợi thế cho ngành nghề của họ.
Chưa kể doanh nghiệp nhà nước được hưởng nhiều điều kiện ưu ái trong kinh doanh
hơn so với khu vực kinh tế tư nhân.
Điều này đã tạo một sự nhầm lẫn lớn,
dẫn đến việc tập đoàn tự cho mình là quan trọng. Những vấn đề này đã cản trở
việc cải cách doanh nghiệp nhà nước và làm trì trệ sự phát triển kinh tế của
đất nước.
Mô hình phát triển dựa trên khu vực
kinh tế nhà nước chỉ xuất hiện chủ yếu ở những quốc gia có trình độ phát triển
thấp. Cùng với sự phát triển của thị trường, khu vực kinh tế nhà nước ngày càng
thu hẹp lại.
Quốc gia nào vẫn giữ tỷ lệ khu vực
kinh tế nhà nước cao sẽ làm trì trệ sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Đơn giản, vì doanh nghiệp nhà nước thường được hưởng những đặc quyền, đặc lợi,
những mối quan hệ ràng buộc về lợi ích... với khu vực quản lý kinh tế nhà nước.
Hệ quả tất yếu là vai trò giám sát
và điều hành doanh nghiệp nhà nước chồng chéo lẫn nhau. Khi quy mô của các tập
đoàn tăng quá nhanh, những nhà quản lý lại “hụt hơi”.
Theo ông, vấn đề lớn nhất trong quản
trị các doanh nghiệp nhà nước là gì?
Ở đây tôi chỉ muốn nói đến vai trò
của người sử dụng, điều hành doanh nghiệp nhà nước ở vị trí là một cổ đông.
Dưới góc nhìn này, người điều hành, sử dụng và giám sát nguồn vốn của doanh
nghiệp nhà nước, nhưng không phải là tài sản của họ.
Hầu như động lực kiểm tra, giám sát
của các cổ đông trong việc sử dụng vốn của Nhà nước không lớn do vai trò không
tách bạch và rõ ràng. Điều này đã tạo ra một mô hình quản trị doanh nghiệp lỏng
lẻo và thiếu trách nhiệm.
Đây chính là lỗ hổng về mặt quản trị
của tập đoàn kinh tế nhà nước.
Ý của ông là việc xảy ra tình trạng
thất thoát vốn của các doanh nghiệp nhà nước là do “cha chung không ai khóc”?
Không hoàn toàn như vậy. Mục tiêu
của Chính phủ là xây dựng các tập đoàn lớn mạnh, trở thành “những cú đấm thép”
cho nền kinh tế. Chúng ta chưa thể kết luận mục tiêu này có phù hợp với tình
hình thực tế hay không.
Tuy nhiên, việc tập trung đầu tư
nhiều nguồn lực để xây dựng lên những tập đoàn kinh tế lớn trong một thời gian
ngắn đã thể hiện tính nóng vội của mục tiêu này.
Bởi không một quốc gia nào, trong
thời gian quá ngắn, có thể xây dựng được những tập đoàn kinh tế thật sự vững
mạnh, có thể cạnh tranh sòng phẳng với những tập đoàn kinh tế lớn, những ngành
công nghiệp lớn trên thế giới.
Quy mô doanh nghiệp phình ra, số
lượng công ty con của các tập đoàn nhà nước tăng nhanh mà không theo một quá
trình tự nhiên, chính là sự bất cập.
Doanh nghiệp cũng như cơ thể con
người, không thể nào lớn quá nhanh, trái với quy luật tự nhiên. Như tôi đã nói
ở trên, khi một doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh nhưng năng lực quản lý của
các thành viên không được cải thiện và nâng cao thì chất lượng quản lý sẽ giảm
sút, việc mất kiểm soát là điều tất yếu xảy ra.
Quan trọng nhất là nguồn lực trí tuệ
của những tập đoàn nhà nước hiện nay lại tỷ lệ nghịch với quy mô của nó.
Theo Saigon Times